Top 15 bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất

25-09-2020 15 27464 0 1

Báo lỗi

cũng tương tự cây lúa, cây tre gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. nói tới cây tre là nói tới phẩm chất, tâm hồn người Việt: mộc mạc, thuần khiết, thanh cao, kiên trì và giàu nghị lực. Đây cũng là một đề tài khá hay trong văn thuyết minh dành riêng cho học viên lớp 9. Chúng ta hãy cùng đọc và cảm nhận nét đẹp đó qua một số bài văn thuyết minh về cây tre mà Toplist tổng hợp trong bài viết tiếp sau này.

123456789101112131415

1


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 1)

Những người đi xa quê thường nhớ về hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình,.. những hình ảnh quen thuộc của quê. Trong số ấy không thể thiếu lũy tre đầu làng. Đúng vậy, cây tre đã từ lâu trở thành một loài cây thân thuộc với người dân Việt Nam.

Không ai biết cây tre có từ khi nào, chỉ biết rằng lũy tre đã đứng vững chãi như vậy từ hàng trăm ngàn năm trước từ thuở vua Hùng dựng nước đến những cuộc kháng chiến chống xâm lăng. Tre đã cùng con người bảo vệ từng tấc đất của dân tộc. Tre vốn là loài cây thuộc họ thảo mộc, có rễ chùm, thân thẳng vững trãi. Những cây tre nhỏ thì cao khoảng từ hai đến ba mét còn những cây tre trưởng thành hoàn toàn có thể cao hơn năm mét.

Thân tre hình ống trụ dài, bên trong rỗng. Trên thân tre thường được chia thành những đốt dài bằng gang tay người trưởng thành. Ở mỗi đốt ấy đều có một mấu nối gọi là mắt tre, nơi mà những cành tre mọc ra. Cành tre nhỏ mảnh khảnh không to như càng cây bàng hay bằng lăng nhưng dại dẻo dai. Những cành cây mọc ra theo nhiều hướng không giống nhau, cành này đan vào cành kia tạo thành một tấm áo giáp bảo vệ cho những búp măng nhỏ xíu đang ẩn náu sâu trong lũy tre.

Măng tre hình búp, phủ lên mình một màu xanh pha nâu của đất. Những lớp áo của măng tre là từng bẹ lá úp vào nhau, đợi đến khi trưởng thành thì những bẹ lá ấy cứ tách dần ra cho măng tre mạnh mẽ vươn lên như một cây giáo đâm thẳng lên bầu trời. Lá tre nhỏ, thon và dẹp thuôn nhọn về phía đầu và sắc. Những chiếc lá mới đầu có màu xanh nhưng khi già thì nó chuyển sang màu vàng.

Tre cũng là loài thực vật có hoa nhưng chỉ nở một lần vào cuối đời vào thời gian nở là từ năm mươi đến sáu mươi năm. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. hoàn toàn có thể thấy, tre là loài cây dễ sống, chúng thích nghi với mọi hoàn cành mọi loại đất dù là đất bạc mầu hay đất chua, vì vậy mà đi đến bất kỳ nơi nào trên giang sơn Việt Nam ta cũng thấy cái dáng cao cao nghiêng nghiêng của lũy tre.

nói tới tre Việt Nam thì làm sao kể cho xiết, từ Bắc vào Nam không biết có bao nhiêu là loài tre: tre Việt bắc, trúc Lam sơn, … Từ lâu tre trở thành người bạn của người nông dân đặc biệt là măng tre được coi như một món ăn đặc sản của người nông dân. Dưới bàn tay khéo léo của người phụ nữ, măng tre được chế trở thành nhiều món ăn như tre luộc, măng khô nấu canh, măng tươi…

Lá tre khô còn là một vật liệu đốt dễ kiếm cho những bà những mẹ. Cành tre có gai nhọn thường được người nông dân xưa làm hàng rào quanh nhà. Đặc biệt nhất là thân tre, chúng trở thành những đòn gánh theo bước chân người nông dân ra đồng, thành cối xay giúp người nông dân xay lúa. Thân tre còn được vót mỏng thành những lạt mỏng dùng để gói bánh hay buộc mái nhà của người dân xưa hay được đôi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân biến hóa thành những chiếc rổ giá hay hình thì cho cò, con vạc,… những món đồ lưu niệm cho khách du lịch.

Trong những ngày lễ Cổ truyền, thân tre còn được dùng làm cây nêu cầu may trong nhà. Những lũy tre còn đi sâu vào tâm trí của những đứa trẻ em vùng quê khi vào những buổi trưa hè nóng bức mà được ngồi dưới gốc tre mà hát những bài ca đồng quê, thả những con thuyền tre. Chính những kí ước đó là hành trang cho bất kỳ người con xa quên sau này đều nhớ về quê.

Không những vậy, hình ảnh dáng tre vững chãi đã đi vào những cuộc kháng chiến từ thời vua Hùng, Thánh Gióng lấy lũy tre làm vũ khí đánh tan quân thù, đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ những dụng cụ làm từ tre: cày, cuốc… cũng được Bác nhắc đến trong bài kêu gọi toàn dân kháng chiến… Chính vì những điều đó mà cây tre từ lúc nào trở thành hình tượng cho làng quê Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 2)

Không biết tự khi nào cây tre trở thành người bạn tri kỷ thiết của người dân Việt Nam. Tre là hình ảnh quen thuộc của không gian làng quê Việt Nam, là bạn của nhà nông, là hình tượng cao quý cho một dân tộc quật cường. Bởi vậy mà từ lâu tre đã khắc sâu vào tiềm thức mỗi người, để mỗi khi nhắc về Việt Nam thân thương là người ta lại nhớ ngay đến cây tre ” thân gầy guộc lá mong manh “.

Không ai biết rõ cây tre có tự khi nào, có lẽ là từ rất lâu, rất lâu. Người ta chỉ thấy rằng cây tre đã gắn bó với dân tộc mình từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước, từ khi người anh hùng Thánh Gióng nhổ bụi tre ngà đánh tan giặc Ân ra khỏi bờ cõi, từ khi Ngô Quyền cắm cọc tre trên sông Bạch Đằng đã tiêu diệt quân Nam Hán và không biết bao nhiêu chiến công nhờ cây tre nhỏ xíu tạo dựng nên.

Cây tre được phân bố khắp nơi từ miền Bắc vào miền Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, đâu đâu ta cũng thấy những lũy tre xanh rờn, rì rào trong gió ngàn, tỏa bóng râm mát ôm trùm đường làng ngõ xóm thân quen. Họ hàng nhà tre cũng rất là phong phú, đa dạng, gồm nhiều loại như tre TP. Đồng Nai, tre Việt Bắc, trúc Lam Sơn, nứa, vầy rồi dang, hóp, lạt…

Khác với những loài cây khác, tre có những đặc trưng rất độc đáo, khác lạ. Ngay từ khi còn là một mầm măng tre đã nhọn hoắt như cái chông, cứ hiên ngang mà đâm thẳng lên đón gió, đón nắng của trời. Tre là loài cây dễ trồng, không kén chọn những điều kiện tự nhiên. Dù cho đất đai cằn cỗi, thời tiết khắc nghiệt thì tre vẫn luôn xanh tốt lạ thường. Thời gian trôi đi, mầm măng nhỏ, yếu ớt ngày nào trở thành cây tre xanh, cứng cáp và dẻo dai.

Rễ tre là loại rễ chùm, bám rất sâu và chắc vài đất giúp cây luôn đứng vững trước mọi bão tố. Thân tre gầy guộc, hình ống rỗng và phủ lên mình bộ áo màu xanh thẫm. Trên thân tre chia thành những đốt, khi tre càng lớn thì những đốt càng dài. Từ thân tre đâm ra tua tủa biết bao nhiêu là cành lá. Lá tre nhỏ, thon dài, xanh một màu xanh mơn mởn với những đường gân ở mặt sau lá. Mỗi khi có làn gió thoảng qua, vài chiếc lá lại lìa cành, chao liệng trên không trung rồi đáp xuống mặt nước như những chiếc thuyền nan tí hon.

Tre không mọc đơn lẻ mà mọc thành bụi, thành lũy. Từng khóm tre xanh rì quanh xóm làng đã ôm ấp từng ngôi nhà, tỏa bóng mát khắp nơi nơi. Cây tre còn là hình ảnh không thể thiếu của làng quê Việt Nam. có lẽ rằng sâu trong tâm trí mỗi người đều ghi dấu hình ảnh từng đàn trâu thong thả nhai rơm dưới gốc tre làng xanh mát. Dưới bóng mát của tre còn là nơi vui chơi lí tưởng của bọn trẻ con. Chúng nô đùa, kể chuyện với những tiếng cười giòn tan, trong sáng và ngây thơ.

Rồi tre cũng làm nên những trò chơi thú vị của tuổi thơ như đan vòng tay bằng búp tre, chiếc hóp cho những bạn nam… những cụ già thì ngồi dưới gốc tre phe phẩy chiếc quạt nan lại bàn đôi ba mẩu truyện thế sự, về sự việc nhà, việc làng. Chiếc điếu cày phì phèo điếu thuốc cũng được làm từ tre, chiếc chõng- nơi ngồi nhàn đàm của những cụ ta cũng từ tre mà ra.

Trong lao động, tre là cánh tay hỗ trợ đắc lực cho người nông dân. Từ thân tre nhỏ gọn mà cứng cáp, người ta chế tác được biết bao công cụ hữu ích như cán cuốc, cán cào… Rồi từ bàn tay khéo léo của những người nghệ nhân mà từ cây tre thô mộc được gọt giũa thành những đôi đũa đẹp đẽ, những đồ mỹ nghệ có giá trị thẩm mỹ được xuất khẩu sang quốc tế mang lại những nguồn lợi kinh tế lớn.

Trong chiến đấu tre còn là người đồng chí, đồng đội quả cảm của dân tộc ta. Từ thời trung đại, tre đã cùng dân ta góp nên bao thành công vang dội rồi đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp chống Mĩ tre lại góp công mình diệt giặc. Những vũ khí thô sơ như chông tre, gậy tre, cán cuốc, cán cày… mà cũng đã làm nên những thành công lừng lẫy năm châu. Tre giống như người lính tiên phong giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre sẵn sàng hi sinh để bảo vệ dân tộc ta.

Cây tre trở thành hình tượng cho con người Việt nam từ sự ngay thẳng, kiên chung đến sự dũng cảm, sẵn sàng xả thân vì dân vì nước. Cuộc sống ngày càng đổi thay và hiện đại nhưng mong rằng cây tre sẽ cùng song hành với người Việt Nam trên mọi chặng đường.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trần Qúy Lộc

Trần Qúy Lộc 2020-07-27 21:11:55

Ngô Quyền cắm cọc gỗ trên sông Bạch Đằng

3


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 3)

Nhắc đến nước Nga, chúng ta nhớ ngay đến thủ đô Moscow với những hàng bạch dương “sương trắng nắng tràn”. Nhắc đến Nhật Bản, ta lại nghĩ tới thành phố Tokyo tràn ngập hoa anh đào. Còn với dải đất hình chữ S, hoàn toàn có thể nói cây tre trở thành hình tượng cho con người và mảnh đất Việt.

“Tre xanh
Xanh tự khi nào
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”
(“Tre Việt Nam”- Nguyễn Duy)

Chẳng biết tre có từ khi nào mà trong những câu thơ, Nguyễn Duy cũng không thể biết được. Chỉ biết: từ thuở xa xưa, cùng với làng bản, xóm thôn, cùng với cuộc sống con người Việt, tre đã xuất hiện rồi. Ở trên khắp những vùng quê Việt Nam, không khó để hoàn toàn có thể bắt gặp và quan sát những dãy tre làng.

Tre là loại thân rỗng, chia thành nhiều đốt, cùng họ với nứa, trúc, mai, vầu, … Tre mang dáng thẳng, vươn cao từ 10-18 m. Ngọn tre cong vút, lá tre mỏng và sắc, gân lá song song như lá lúa, màu xanh đậm. Tre thường sống ở nơi đất đai khô cằn, kém màu mỡ với chiếc rễ tre- loại rễ chùm, cứng, ăn sâu vào lòng đất để hút chất dinh dưỡng tối đa đi nuôi cây. Chính vì vậy, trong bài thơ của tôi, nhà thơ Nguyễn Duy còn viết:

“Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu chịu khó”
(“Tre Việt Nam”)

Dưới gốc tre còn có những lớp măng non nhọn hoắt, được bao bởi những lớp bẹ dày, cứng ở ngoài. Tre mới mọc, mọc thành từng khóm, từng lũy xếp sát với nhau. Có phải vì “thương nhau” mà “tre chẳng ở riêng” như Nguyễn Du nói không?

Tre trên khắp giang sơn Việt Nam rất đa dạng và phong phú nhưng chủ yếu phân theo ba loại chính.

Loại trước tiên là những tre xanh được trồng nhiều ở những làng quê, dáng thẳng, vươn cao cho bóng mát. Tre đằng ngà là loại tre có thân màu vàng óng. Truyền thuyết kể lại rằng: ngựa sắt của Thánh Gióng phun lửa làm cháy những bụi tre để lại màu ngả vàng như thế. Còn tre gai là loại tre nhỏ, thân thấp, có nhiều gai rất thuận tiện dùng để làm hàng rào, hàng dậu.

Cây tre từ lâu trở thành gần gũi và ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống mỗi người dân Việt Nam. Trong đời sống hằng ngày, tre dùng để làm nhà cửa, làm giường, làm bàn ghế. trong cả những chiếc rổ rá cũng được làm rất rỉ mỉ và tinh ý bằng tre. Ngày nay, tre còn dùng làm đồ thủ công mỹ nghệ như những chiếc giỏ, chiếc nàn hay những bộ bàn ghế đầy tinh xảo.

Trong lao động, tre dùng làm chiếc cối xay thóc để làm ra những hạt gạo thơm ngon, trắng ngần. Đúng như nhà văn Thép Mới đã viết: “Cối xay tre nặng nề quay, Từ nghìn đời nay, xay nắm thóc.” Tre làm thành cán cày, cán cuốc của cha, là đòn gánh theo mẹ vào mỗi buổi đi chợ. Trong chiến đấu, gậy che, chông tre đó là vũ khí đặc biệt để chống quân thù; “Tre xung phong vào xe tăng đại bác.

Tre giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” (Thép Mới). Tre đi vào không gian sinh hoạt, cùng con người chiến đấu và thành công oanh liệt mà còn đi vào lịch sử với những mẩu truyện li kì của bà và của mẹ. Trong truyền thuyết, khi gậy sắt bị gãy, Thành Gióng đã nhỏ tre để quét sạch lũ giặc Ân độc ác ra khỏi bờ cõi. Rồi năm 938, cũng chính nhưng cây tre ấy, đều được dùng làm cọc đánh xuống lòng sông Bạch Đằng khiến cho quân Nam Hán tan tác.

Sau những năm tháng chiến đấu hào hùng, tre lại trở về với cuộc sống đời thường, cùng vui buồn sinh hoạt với mọi người. Những điếu cày tre từ khi nào đó là thú vui của những cụ già, là thú vui của đám trẻ với những que truyền bằng tre. Và tất nhiên không thể thiếu được những chiếc sáo diều vi vu trên bầu trời những đêm hè của lũ trẻ nghịch ngợm trong làng, những chiếc nôi tre đưa em thơ vào giấc ngủ êm đềm.

không chỉ là có những công dụng và lợi ích trong cuộc sống sinh hoạt, tre còn mang rất nhiều ý nghĩa sâu sắc riêng. Từ lâu, tre đã gắn bó với con người đời đời kiếp kiếp: từ lúc lọt lòng trong chiếc nôi tre đến khi trở về với đất mẹ trên những chiếc chõng tre; tre vẫn luôn bên người. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, tre đã cùng con người lao động dựng xây, chiến đấu và sản xuất. Vì thế tre đó là hình tượng cho người Việt Nam chịu khó chịu khó, kiên trì, bất khuất.

Những búp măng non còn là hình tượng cho thiếu niên nhi đồng đầy sức sống vươn lên. Rồi tự bao gờ, tre đã bước vào những câu thơ, lời hát của những nghệ sĩ để rồi trở thành những câu ca bất hủ. Tre đi vào những bức họa đồng quê, chỉ lặng lẽ đứng một góc nhưng lại cho ta cảm giác yên bình, tĩnh tâm và hạnh phúc. Vì vậy, dù có nơi đâu, lúc nào đi chăng nữa, chỉ việc nơi đâu có những rặng tre, những búp măng xanh thì đều có tâm hồn và vẻ đẹp, nhân cách Việt.

Ngày nay, khi cuộc sống ngày càng hiện đại, những chiếc giường tre, chõng tre đã dần bị thay thế bởi những thiết bị hiện đại, những lũy tre nơi làng quê cũng thưa thớt dần. Nhưng sẽ có một điều mãi mãi không thay đổi: vẻ đẹp và những giá trị tâm hồn cao quý của con người, mảnh đất này.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 4)

Có lẽ đối với mỗi người Việt Nam, cây tre trở thành một phần của cuộc sống. Đặc biệt với mỗi con người ra đi từ làng quê thì hình ảnh những lũy tre xanh đã ăn sâu vào tiềm thức, do vậy dù có đi đâu đến nơi đâu họ cũng đều nhớ về lũy tre xanh như nhớ về kỉ niệm gắn bó, thân thương nhất. Và đó đó là niềm tự hào của họ hàng nhà tre chúng tôi.

Sự gắn bó, gần gũi của họ hàng nhà tre chúng tôi được thể hiện ở chỗ đi bất kỳ nơi đâu, đồng bằng hay miền núi thì bạn cũng đều thấy chúng tôi nghiêng mình trên những con đường hay trong những cánh rừng bát ngát. Họ nhà tre chúng tôi rất đông đúc, nào là: Tre TP. Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, rồi dang, rồi hóp và cả luỹ tre thân thuộc đầu làng…

Khác với những loài cây khác, từ khi mới bắt đầu sinh ra, chúng tôi đã thể hiện sự ngay thẳng, điều đó những bạn cũng hoàn toàn có thể thấy ngay trong những lúc nhìn những mầm tre mọc thẳng tắp và dù trong bất kỳ môi trường nào chúng tôi cũng vẫn vươn lên để sống mạnh mẽ và xanh tốt. Thân tôi gầy guộc hình ống rỗng bên trong,màu xanh lục, đậm dần xuống gốc.

Tôi bền chắc hiên ngang chẳng dễ gì bị ngã dưới những anh mưa chị gió. Vả lại trên thân tôi có rất nhiều rất nhiều gai nhọn như những chiếc kim giúp tôi tự vệ ,bảo vệ cuộc sống của tôi trước những bàn tay ác quỷ dám chặt phá tôi một cách vô lí. Lá của tôi mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan rung rinh theo những cơn gió thoảng. Rễ tôi thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ.

Vào những ngày khô hạn nóng nực cực kì. Cả nhà chúng tôi đung đưa theo gió, dang những cành tre che mát cho đàn con – những đàn con thân yêu. Đến giai đoạn mưa gió bão bùng,chúng tôi kết thành lũy dày kiên cố ra sức chống gió cản mưa. Chính nhờ đặc trưng này mà chúng tôi sống được ở nhiều vùng khí hậu không giống nhau, ở những nơi gần nước hay những nơi xa nước. Vì thế mà câu thơ này phát hành:

“Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi đá vôi bạc mầu”…

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chúng tôi luôn cùng con người đấu tranh cho độc lập, tự do. Chẳng thế mà từ lâu, người Việt đã ví chúng tôi với phẩm chất quật khởi của dân tộc ngàn đời. Những ngày giang sơn Việt Nam còn sơ khai, chúng tôi đã giúp ông Gióng diệt lũ giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Rồi trong trận đánh chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chính chúng tôi đã dìm chết bao tàu chiến của địch khiến cho chúng khiếp sợ phải thua cuộc.

Thuở giang sơn còn vẫn chưa xuất hiện vũ khí hiện đại như hiện giờ, chúng tôi là vũ khí mạnh nhất được dùng để tiêu diệt quân thù. Và trong hai trận đánh tranh chống Pháp và chống Mĩ, chúng tôi cũng tích cực tham gia kháng chiến bằng phương pháp góp một phần bé nhỏ cơ thể mình để làm ra những cây chông nhọn hoắt sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù. Bởi vững vàng trong chiến đấu mà họ mà tre tôi đã được phong danh hiệu anh hùng bất khuất.

không chỉ là trong đánh giặc giữ nước, loài tre nhà chúng tôi còn rất có ích trong cuộc sống từng ngày. Mỗi khi về thăm một thôn xóm, một bản làng nào bạn cũng sẽ thấy vòng tay của chúng tôi dang rộng, ôm trọn và tỏa bóng mát cho cho cả dân làng. Trong vòng tay của chúng tôi, những ngôi nhà trở thành thông thoáng, những chú trâu mới có bóng râm để nhởn nhơ gặp cỏ. Những trưa hè, chúng tôi thật hạnh phúc khi được ngắm những khuôn mặt trẻ thơ say nồng giấc ngủ trong tiếng võng kẽo kẹt dưới khóm tre. Hơn thế chúng tôi còn là những vật liệu để bà con dựng nhà, những ngôi nhà được làm từ tre rất thông thoáng và sạch sẽ.

Dưới bóng chúng tôi là cả một nền văn hóa nhiều năm đang từng ngày được nâng niu và gìn giữ. Trong đời sống sinh hoạt, chúng tôi còn làm ra những đồ dùng thân thuộc với mỗi người: đó là đôi đũa, là chiếc chõng tre, chiếc giường tre. Đối với mỗi gia đình nông dân, tre tôi là người bạn cực kì thân thiết.

Ngoài ra cây danh, nứa, một trong những họ nhà trẻ còn giúp con người chẻ lạt buộc nhà, nứa giúp cắm sào làm giàn cho bầu bí leo quấn quýt vào nhau. Tre còn gắn với tuổi già, cho họ chiếc ống điếu hút thuốc làm vui. Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn hoàn toàn có thể làm nên những trò chơi thú vị, hữu ích. Dưới những bãi đất rộng, được chúng tôi che hết tia nắng oi ả của mùa hè, những bạn tha hồ chơi đùa thỏa thích.

những bạn nữ còn trò gì thú vị hơn ngồi đánh chuyền với những que chắt bằng tre. Còn những bạn nam lại chạy nhảy reo hò theo tiếng sáo vi vút trên chiếc diều cũng được làm ra từ tre. Những cánh diều đó sẽ đem ước mơ của những bạn về nơi xa. Tre chúng tôi còn làm nên những tiếng nhạc réo rắt từ những cây sáo tre, sáo trúc, làm vơi đi bao nỗi vất vả nhọc nhằn của người nông dân chân lấm tay bùn.

Ngày nay loài tre của chúng tôi còn vươn xa hơn nữa. Có một giáo sư là Việt Kiều sống ở Pháp đã đưa anh em chúng tôi sang trồng thử trên đất Pháp. Thế mà ở xứ lạ, chúng tôi vẫn sống vững vàng. Ngày sau, dẫu nước mình có hiện đại hơn, loài tre chúng tôi cũng vẫn sẽ ngay thẳng, thủy chung và dũng cảm để tôn lên những đức tính của người hiền – đức tính Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 5)

Từ bao đời nay, cây tre là người bạn gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam. Tre đã góp sức toàn bộ sự sống cho con người nên ta phải yêu quý và bảo vệ cây tre Việt Nam.

Tre là một loại cây khẳng khiu, có nhiều công dụng. Lá tre thường được người miền Nam lấy để gói bánh tro vào dịp lễ giết sâu bọ. Lạt tre dùng để cột bánh. Thân tre được dùng để làm đũa. những thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre. Nhân dân ta thường đong dầu, đong nước mắm khi mua bán bằng ống tre. Thời cách mạng, bộ đội Việt Nam dùng ống tre để đựng nước, nấu cơm. Trong quán ăn ở vùng nông thôn, người ta cũng chẻ thân tre để làm ống tăm cho khách sử dụng sau bữa ăn. Thân tre chẻ nhỏ để nhóm bếp rất đượm lửa.

Tre có một số loại thông dụng như: tre gai, tre xanh, tre ngà, tre rừng… Bên cạnh đó, nó còn có anh em bà con như: lồ ô, trúc, tầm vông… Tre xanh lúc còn sống có màu xanh mượt, đốt dài và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng từ 6 – 8cm. Cao không đến 10m. Tre gai kích thước ốm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh gai, sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp. Người ta thường trồng làm cảnh. Tre rừng, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm.

Ngược lại, lồ ô là loại tre rừng khổng lồ, bề ngang và bề cao của nó gấp hai, ba lần tre xanh. Nó mọc thành từng bụi, từng hàng như rừng trong vùng đất hoang. Người ta đốn lấy gỗ làm nhà tranh, nhà sàn rất chắc chắn. Lồ ô to lớn bao nhiêu thì trúc lại mảnh mai, yếu ớt bấy nhiêu vì thân rỗng và kích thước nhỏ xíu. Có hai loại trúc là trúc xanh và trúc vàng. Gần đây VN có nhập thêm một ít trúc kiểng gọi là trúc Nhật. Những cây kiểng này có hình dáng đặc biệt, thân màu vàng óng, lá xanh mượt mà rất được mọi người ưa chuộng, trồng làm cảnh và thường bày ở mái hiên, phòng khách.

Hình ảnh cây tre đã đi vào ca dao, thơ văn và ca từ. Chẳng hạn như:

“Rễ siêng chẳng ngại đất nghèo

Tre bao nhiêu lá bấy nhiêu chịu khó

Nghiêng mình trong gió tre đu

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành…”

(NGUYỄN DUY)

Ông bà ta có nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn tre tốt:

“Trồng tre, trồng trúc, trồng dừa

Muốn nên cơ nghiệp thì chừa lang vân”

Người ta còn sử dụng tre già hay tre non vào những việc không giống nhau:

“Tháng tám tre non làm nhà

Tháng năm tre già làm lạt”

Người thợ mộc còn so sánh độ bền của tre như sau:

“Tre già là bà gỗ lim”

Ngoài ra, ông bà ta còn nhìn cây tre để nghe ngóng về thời tiết: “Lá tre trôi lộc, mùa rét xộc đến”. Và từ đó người xưa còn rút ra một quy luật sống của thiên nhiên và con người: “Tre già, măng mọc” tre chẻ ra làm nuộc lạt, trở thành, một thứ không thể thiếu ở nhiều chỗ: khi gói bánh, bó rau hoặc lợp nhà. Ca dao cũng nhắc đến nuộc lạt: “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”. Ai từng đọc truyện Thánh Gióng hẳn không quên bụi tre Đằng Ngà khi Thánh Gióng nhổ tre đánh tan giặc ngoại xâm: “Chẻ tre nghe Gióng”.

Tre không những đi vào thơ văn mà măng tre còn là một thực phẩm chế biến đa dạng. những món ăn từ măng tre: măng tươi, măng khô, bún măng vịt, măng xào thịt ba rọi, thịt kho măng, măng luộc chấm mắm tôm, măng chua… Bún măng vịt là món ăn được nấu với vịt non, béo, măng tươi hoặc khô đã được luộc và thay nước nhiều lần, khi ăn người ta cho bún, một ít hành răm và rau sống vào nữa, trở thành một món ăn vừa thơm vừa béo với nước dùng ngọt dịu.

Măng tươi đã luộc kĩ, có màu vàng chanh, được xắt miếng xào chung với thịt ba rọi trở thành một món ăn dân dã và rất ngon nếu có thêm một vài lát ớt đỏ thì lại càng hấp dẫn. Thịt heo kho măng cũng là một món ăn “đẹp mắt”, nấu nhanh và để được vài ngày, tiết kiệm được thời gian nấu nướng mà khi chan vào chén cơm nóng thì cũng rất ngon miệng. Măng luộc phải chọn măng trúc non, vào mùa mưa. Sau khi luộc nhiều lần, ta xắt mỏng rồi chấm với mắm tôm hoặc nước mắm ngon ăn kèm với cơm như một món rau. Nó sẽ có một vị vừa giòn vừa mát, kèm theo một vị ngọt dịu của măng tươi.

Nói tóm lại thì cây tre luôn là người bạn đồng hành và nó đóng góp toàn bộ lợi ích của bản thân mình cho con người Việt Nam. Hiện nay cuộc sống ngày càng hiện đại và có nhiều đồ dùng là bằng nhựa, inox xuất hiện. Nhưng người ta vẫn có khuynh hướng quay về với thiên nhiên. minh chứng là những bộ salon làm bằng mây và tre rất rất được quan tâm và trở thành một món hàng xuất khẩu đắt giá. Ngày nay, nhiều người đã bỏ trồng lúa hoặc cây khoai, đốn cây tre để có chỗ xây nhà lầu, nhưng nếu một lúc nào đó, VN không hề một bóng tre thì đời sống sẽ khó khăn và buồn tẻ biết mấy!

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 6)

Một những loài cây có sự gắn bó nhiều năm và mật thiết đời sống, văn hóa của dân tộc Việt Nam phải kể tới là cây tre. Khi nhắc đến cây tre, chúng ta không khỏi tự hào gọi là cây tre Việt Nam như sự thừa nhận, khẳng định cây tre là một phần không thể thiếu được của nước nhà.

Tre thường được thấy ở cổng làng, cổng đình cùng với những hình ảnh như cây đa, giếng nước, sân đình, là một điều không thể thiếu nơi làng quê. Chúng đứng thành bụi, giăng thành hàng, thành lũy. Những lũy tre mọc cao, dày vươn lên như có ý che chắn cả cả một vùng sinh hoạt phía bên dưới. Dáng tre mọc thẳng, cao, nhìn có vẻ “gầy gò” mà thực chất rất dẻo dai.

Rễ tre thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ cây không bị đổ trước những cơn gió dữ. Thân tre tròn, xanh thẫm, nhỏ nhắn nhưng dẻo dai, không dễ gì đổ, gãy. Trên thân có những đốt được phân ra, nhìn kĩ có màu vàng nhạt. những nhánh tre thường không mọc trên cao mà mọc ngay gần dưới đất, chúng có rất nhiều gai gồ ghề và thường rất nhỏ. Lá dài, thon, nhọn, chỉ bằng nửa lá xoài, nhìn mỏng manh nhưng không dễ bị úa tàn.

Họ nhà tre phải đến cả trăm họ, đông đúc, nào là: Tre TP. Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên,… Dù là họ nào thì từ khi còn là măng tre, đã có dáng mọc thẳng, hiên ngang như vươn lên phía bầu trời không chịu cong khi nào.

cấu trúc thì có vẻ đơn giản như vậy nhưng cây tre có rất nhiều công dụng, là một phần rất quan trọng trong đời sống của bà con nông dân. Dân ta xưa kia vẫn chưa thể xây nhà gạch, mái ngói, tre trở thành vật liệu lợp mái, lát vách che nắng che mưa cho bao gia đình. Tre còn được tận dụng trong nghề thủ công, đan lát, trở thành những chiếc rổ, chiếc rá xinh xắn, tiện nghi theo những cô, những chị ra chợ, ra đồng.

Tre làm cán cuốc, cán cày một nắng hai sương với người nông dân để được những mùa gặt bội thu. Tre gắn bó trở thành những thứ đồ hàng cho tụi trẻ chăn trâu, trở thành cái điếu cày làm bạn tuổi già với những cụ già,… không chỉ là thế, những chị, những mẹ còn trở thành duyên dáng hơn nhiều trong chiếc guốc tre thoải mái. Tre trở thành người bạn tri kỷ thiết với nông dân ta từ xưa đến nay.

Khi thời bình, tre trở thành những vật dụng thường ngày của người nông dân nhưng vào lúc VN gặp nỗi gian truân, tre lại trở thành một vũ khí cực kì lợi hại của dân ta. Ở đó, “tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” (Thép Mới). Trong lúc mà dân ta vẫn chưa xuất hiện vũ khí hiện đại, vũ khí sử dụng đều phụ thuộc cả vào thiên nhiên. Tre với tính chất dẻo dai mà cứng rắn trở thành một vũ khí cực kì lợi hại của dân ta.

Từ ngày còn bé ta đã được biết đến truyền thuyết về vị anh hùng Thánh Gióng, bẻ tre bên đường, đánh cho quân xâm lược không hề manh giáp. Hay sự kiện lịch sử quan trọng, Ngô Quyền dùng cọc tre và lợi dụng thủy triều đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938, chấm hết một nghìn năm Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam. Đó là minh chứng rất cụ thể cho vai trò to lớn của cây tre trong những trận chiến khốc liệt giành độc lập dân tộc.

Tre cũng mang trong mình những ý nghĩa sâu sắc hình tượng rất đáng để tự hào, tiêu biểu cho những đức tính đẹp đẽ của dân tộc. Tre luôn mọc thành lũy, thành hàng chứ không khi nào mọc một mình, đó là tinh thần đoàn kết, đồng lòng, là một truyền thống quý báu từ bao đời của cha ông.

Tre mọc thẳng, mọc cao, không khi nào mọc nghiêng, cùng sự dẻo dai dễ sống của cây là thể hiện rõ nhất cho sự kiên trì, bất khuất, giống như những con người Việt Nam dù phải chịu bao nhiêu sương gió, nhọc nhằn hay bị áp bức vẫn không mất đi sự cao quý trong tâm hồn và sự kiên trì trong tính cách. Đó đều là những phẩm chất đáng quý của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, nên mới nói, nhắc đến cây tre là nhắc đến con người Việt Nam. Bởi vậy, cả dân tộc đều gọi tre là cây tre Việt Nam.

Tre thật đẹp, thật có ích. Tre là hình tượng không thể phai đổi, không thể mất đi, tre già măng mọc, thế hệ này sẽ tiếp nối nhựa sống của thế hệ kia, sẽ còn mãi đến mai sau. Dù là chiến tranh đã lùi xa, cuộc sống trở thành hiện đại hơn, nhiều loại vật liệu được sinh ra thay thế cho tre nhưng cây tre vẫn mãi giữ một vị trí quan trọng trong tâm hồn người Việt và mãi là tài sản vô giá của cả dân tộc.

Trên mảnh đất Việt Nam của cha ông, tre và người và đã gắn bó, cùng đồng cam cộng khổ, nâng đỡ nhau qua bao năm tháng lịch sử có giá trị to lớn và vĩnh hằng. Hình ảnh cây tre trở thành hình ảnh không thể thiếu trong những trang văn hóa bất diệt của dân tộc, là người bạn lớn đáng tôn vinh của cả dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 7)

Việt Nam rừng vàng biển bạc, tài nguyên VN cực kì phong phú, khắp nơi đều có muôn vàn những loại cây thảo mộc, cây xanh đa dạng không giống nhau. Chính vì thế nước Việt Nam “xanh muôn ngàn cây lá không giống nhau” Từ núi cao cực Bắc tới sông nước Cà Mau, mỗi vùng sinh thái đều tươi xanh những loài thảo mộc, hoa trái đặc trưng. Nhưng thân thương xiết bao, khi đâu đâu cũng bốn mùa xanh những lũy tre tươi tốt.

Tre làm bạn với làng, bản, xóm, thôn, từ ngàn xưa, bóng tre xanh âu yếm đã phủ đầy nếp sống thanh cao, cần mẫn của người dân Việt ta. Cây tre cao, thẳng thắn như vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết của tâm hồn người dân Việt Nam. Có lẽ, cây tre xanh xanh trở thành người bạn tri kỷ thiết của nông dân và nhân dân Việt Nam, sống bền chắc, dai dẳng và lặng lẽ làm êm dịu cho vẻ đẹp tâm hồn người dân đất Việt.

Tre là loại cây thân gỗ, cao vút, thân nhỏ khoảng bằng cánh tay người trưởng thành. Xung quanh thân cây có những chiếc gai nhọn, sắc. Tre thường mọc cành và lá ở phần ngọn, lá tre xanh xanh, thon thon như chiếc thuyền nan. Trên lá có những đường gân song song trông rất duyên dáng. Tre già măng mọc, cứ như thế tre luôn sinh sôi phát triển.

Tre “mộc mạc”, “nhũn nhặn” mà nhẫn nại không chê đất cằn, sá gì sương gió. Tre “ngay thẳng, thủy chung, dũng cảm”, giàu lòng vị tha, bao dung, đùm bọc. Tre “thanh cao, giản dị, chí khí như người”. “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm”. Chính vì thế mà dù giang sơn có phát triển, ngày càng tiến bộ hiện đại thì bóng tre xanh vẫn sống trong lòng người Việt Nam ta không khi nào mất đi.

Tre ăn ở với người kiếp kiếp. Từ khi còn ấu thơ chúng ta vẫn nằm trong chiếc nôi tre, võng tre ầu ơ trong tiếng ru của bà của mẹ lớn lên từng ngày đó thôi. Đến khi đã gần đất xa trời, về với tổ tiên thì cây tra lại là linh hồn gắn với chiếc xe tiễn đưa ta trên đoạn đường sau cuối. Tre xanh xưa kia còn là cánh tay đắc lực giúp người nông dân làm những công cụ bằng tre, những đồ vật như làn, rổ, rá bằng nứa rất dẻo dai và bền chắc. Tre xanh đi vào những câu ca dao, những câu thơ rất điệu rất duyên đằm sâu vào tâm hồn người Việt Nam ta:

“Lạt mềm gói bánh chưng xanh

Cho tre lấy trúc cho anh lấy nàng”.

Như thế tre đã sống với toàn bộ tấm lòng và tâm hồn thanh ao, chân thực cùng người dân ta, cả khi chiến tranh, gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh giữ đồng lúa chín. Đến khi hòa bình, tre được dùng để làm những đồ nội thất trong gia đình.

Tre là loại cây mộc mạc, đơn sơ, không phải vẻ sang trọng, khí phách quân tử như những cây tùng, cây bách cũng không , hấp dẫn lòng người bởi mùi thơm, nhưng toàn bộ những gì cây tre mang lại là nguồn dưỡng tảo tần đã gắn bó với người dân ta đời đời kiếp kiếp. Chính vì thế, với cây tre xanh, không chỉ là đơn thuần là loại cây vô tri vô giác nữa mà đó là cây linh hồn của người dân Việt Nam.

Dưới bóng tre xanh, tâm hồn ta được tỏa bóng mát, được êm dịu và lắng nghe những khúc nhạc du dương của đồng quê, của tiếng diều sáo vi vu, đó đó là những sợi nhớ, sợi thương của quê mà cây tre xanh xanh đã giăng mắc trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Cây tre là hình tượng cho phẩm chất đặc sắc nhất của con người Việt Nam ta: đoàn kết, thủy chung, thanh cao, bất khuất. Là đức tính kiên trì ẩn tàng trong khả năng thích ứng dẻo bền vô hạn trước mọi tai ương thiên nhiên cũng như mọi biến thiên, bão táp và thảm kịch lịch sử, toàn bộ tới từ mọi phía lẫn do nội sinh, để trường tồn và phát triển. Cùng với dân tộc ta, cùng với lịch sử phát triển của dân tộc, cây tre xanh lặng lẽ bền chắc nuôi dưỡng những tinh hoa của đất Việt, hun đúc nên những phẩm chất được bè bạn năm châu mến mộ.

Cây tre xanh là những gì thiêng liêng và cao quý vô ngần của tâm hồn người Việt Nam xưa và nay vẫn chưa khi nào mất đi, vẫn chưa khi nào tiêu biến, làm nên những nét rất riêng cho văn hóa, linh hồn quê.

Tuổi thơ ta với tiếng diều sáo vi vu, với tiếng võng kéo cà kẽo kẹt cũng đi lên từ tre xanh xanh ngát. Tre xanh là vẻ đẹp tâm hồn, là nét đẹp truyền thống rất Việt Nam rất truyền thống rất nền nã của nhân dân ta. Có lẽ sau này, dù công nghiệp hóa hiện đại hóa có phát triển mạnh mẽ như vũ bão chăng nữa thì cây tre xanh vẫn mãi mãi là người bạn tri kỷ thiết của nhân dân Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 8)

“Tre kiên trì, tre bất khuất…tre anh hùng lao động…”. Từ bao đời nay tre gắn bó mật thiết với hình ảnh của làng quê Việt Nam hàng trăm ngàn năm nay, là hình tượng luôn in sâu trong tâm trí của người Việt ta.

Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rễ ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc hoàn toàn có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình một hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng trăm ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẵn sàng hy sinh toàn bộ. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.

Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…giang sơn lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phải ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng – Hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc xâm lược trở thành hình tượng cho sức mạnh thành công kỳ diệu của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.

Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, lũy tre xanh trở thành “pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng hóa. Tre trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tác vũ khí tiến công trong những trận đánh. Những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược để giành Độc lập – Tự do cho Tổ Quốc. “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…”

Cây tre đã từng là nguồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những mẩu truyện cổ tích, đến những ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của Nguyễn Duy,… Tre góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến. Nó là một trong những vật liệu khá quan trọng trong việc tạo ra những nhạc khí dân tộc như: đàn tơ tưng, sáo, kèn,…

Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt Nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí. Tre ngày nay còn là nguyên liệu làm ra những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách quốc tế ưa thích: những mặt hàng dùng để trang trí những nơi sang trọng : đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.

Bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đương với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. đặc trưng cố kết này tượng trưng cho tính xã hội của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam chịu khó, siêng năng, bám đất bám làng. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao trận đánh tranh giữ nước, tre xứng đáng là hình ảnh hình tượng cho tính kiên trì, bất khuất của người Việt Nam.

Bắt gặp hình ảnh những khóm tre trong cuộc sống hiện đại ngày nay, quả thực, chẳng dễ dàng. Nhưng luôn in đậm trong tâm trí của mỗi người con đất Việt sẽ luôn là những khóm tre xanh tươi tốt, luôn hướng lên trời cao, hướng về một tương lai tươi sáng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 9)

Ngày xửa ngày xưa,tôi chỉ là một mầm măng nhỏ được sinh ra tại một làng quê nghèo chất phác và mộc mạc.Từ lâu tôi đã thắc mắc không biết tổ tiên mình là ai và có từ khi nào. Chỉ biết rằng:

“Tre xanh xanh tự khi nào

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”.

Thật đúng như vậy,họ hàng nhà tre chúng tôi đã có từ nhiều năm,gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử.

Thuở ấu thơ,tôi chỉ là một mầm măng yếu ớt với cái thân hình bé nhỏ hình nón,trên đầu nhọn hoắc và khoác ngoài nhiều lớp áo xếp ông xã lên nhau bao lấy tấm thân nhỏ xíu.Rồi tôi trưởng thành theo thời gian và trở thành một chàng tre đích thực.

Thân tôi gầy guộc hình ống rỗng bên trong,màu xanh lục,đậm dần xuống gốc .Tôi bền chắc hiên ngang chẳng dễ gì bị ngã dưới những anh mưa chị gió.Vả lại trên thân tôi có rất nhiều rất nhiều gai nhọn như những chiếc kim giúp tôi tự vệ ,bảo vệ cuộc sống của tôi trước những bàn tay ác quỷ dám chặt phá tôi một cách vô lí.

Lá của tôi mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan rung rinh theo những cơn gió thoảng. Rễ tôi thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ .

Vào những ngày khô hạn nóng nực cực kì. Cả nhà chúng tôi đung đưa tạo gió, dang những cành tre che mát cho đàn con-những đàn con thân yêu. Đến giai đoạn mưa gió bão bùng,chúng tôi kết thành lũy dày kiên cố ra sức chống gió cản mưa .Chính nhờ đặc trưng này mà chúng tôi sống được ở nhiều vùng khí hậu không giống nhau, ở những nơi gần nước hay những nơi xa nước. Vì thế mà câu thơ này phát hành:

“Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi đá vôi bạc mầu”…

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, vai trò của tôi được nêu cao trong việc làm vũ khí đánh giặc như gậy , trông, mũi tên, cung tên,…góp phần mang lại hòa bình cho dân tộc Việt Nam hôm nay. Trong cuộc sống của con người ngày hôm nay, tôi được xây dựng thành những ngôi nhà tre vững chãi che nắng che mưa, nuôi sống con người và đàn con thơ của họ.

Trong bữa cơm hằng ngày của con người, tôi được dùng để gắp đồ ăn và con người gọi tên tôi là đũa, Dùng tôi để gắp đồ ăn không trơn trượt như đũa nhựa mà rất nhẹ và dùng gắp đồ ăn rất dễ dàng, lại rẻ tiền nữa! Sau mỗi bữa ăn. những ng lớn dùng tăm để xỉa răng được làm từ tôi. mỗi sáng những chị em phụ nữ trên tay xách chiếc giỏ mây đi chợ, hay những ông những bà nhâm nhi tách trà nóng trên bộ bàn ghế được đan bằng mây.

Vì vậy, ở quê tôi có nhiều người làm tăm tre,đũa tre, đan giường hay đan giỏ mây,bàn ghế mây. những chị tre ngà có ngoại hình khá đẹp và ấn tượng thì được trồng làm cảnh . Ngoài ra, khi cuộc đời tôi đã chấm hết ,thân hình chỉ còn là một cây tre gầy còm, xơ xác và khô héo lụi tàn , tôi vẫn được mọi ng sử dụng để làm chất đốt vì dễ cháy và ngọn lửa mạnh.

những bạn đã nghe câu: “Tre già măng mọc” vẫn chưa? Đó là chu kỳ sống của họ nhà tôi đấy! Dòng họ nhà tre chúng tôi sẽ duy trì nòi giống cho tới tận mai sau để gắn bó với con người nhiều hơn thế, để dần đi vào tiềm thức của loài người, để được người đời nhớ mãi. Nhớ rằng tre như một người nông dân chất phác và mộc mạc, chịu thương chịu khó.

Tre còn như một hình tượng thiêng liêng cho một sức mạnh hùng hồn, sự bền chắc và chịu đựng ngoan cường, tinh thần bất khuất trước kẻ thù của giang sơn ta, dân tộc ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Thân hình yếu ốm của loài tre chúng tôi như nước Nam ta thời xưa vẫn chưa hùng mạnh nhưng lại tiềm tàng một sức mạnh phi thường , đánh đổ được toàn bộ những bão tố, khó khăn để đi đến một thắng lợi vẻ vang và chính nghĩa.

“Mai sau, mai sau, mai sau

Đất xanh xanh mãi xanh màu tre xanh”…

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 10)

Tôi là một người bạn cực kì thân thiết với con người, không chỉ là cùng con người chiến đấu trong những ngày giang sơn có giặc ngoại xâm, mà trong cả trong thời bình, khi hòa bình đã lập lại thì tôi vẫn gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của con người. Tôi thường sống thành bụi, thành khóm, chúng tôi sống nương tựa vào nhau, vì vậy mà chúng tôi cực kì kiên trì, sức sống cũng rất mãnh liệt. Bạn đoán ra tôi là loài cây gì không? Đúng vậy, tôi là một cây tre, một trong những thành viên của họ nhà tre

Tôi là một cây tre mới trưởng thành, thân tôi thẳng tắp và vươn lên cao vút, so với họ nhà tre chúng tôi thì tôi thuộc thế hệ thanh niên đầy mạnh khỏe, tràn đầy nhiệt huyết cũng như sức sống ở bên trong mình. Họ nhà tre chúng tôi thường sinh sống thành từng khóm, từng rặng, trong những khóm ấy thì lại có đến năm đến bảy cây tre không giống nhau. Tùy vào sức sinh sản và phát triển của từng rặng tre mà số lượng cây tre cũng không giống nhau.

Khóm tre nhà tôi gồm có tre ông, tre bố và tre mẹ, tre bà, và một cây tre em, tôi là con trưởng trong gia đình tre chúng tôi, cũng là cây tre cao nhất trong khóm tre ấy. Tre ông và tre bố vì đã già rồi nên không phát triển được nhiều nữa. Tuy nhiên, so về độ cứng cáp, vững chắc thì tôi không thể so với ông hay bố của tôi được.

Tôi là một loại thực vật thân thẳng, giữa những khúc thân của tôi được kết nối bởi một bộ phận, đó là mấu tre hay nhiều nơi còn gọi bằng một tên khác đó là mắt tre. Đây là bộ phận cứng cáp nhất trên cơ thể của thôi, nó có vai trò giữ cho thân tre được vững chắc, nhưng cũng không kém phần mềm dẻo. Thân tôi có rất nhiều đốt, qua mỗi giai đoạn phát triển thì những đốt tre này dần đẩy tôi lên cao.

Một bộ phận nữa không thể kể tới khi nhắc tới họ nhà tre chúng tôi, đó đó là lá tre, lá của chúng tôi không to như những chiếc lá nhãn hay lá xoài, lá của chúng tôi rất mảnh, nhỏ và dài. Nhìn bề ngoài những chiếc lá tre tương đối giống với những chiếc lá của cây xanh, nhưng lớn hơn. Lá của chúng tôi cũng có thể có rất nhiều công dụng đấy nhé, chúng tôi được con người đun lên để lấy nước xông hơi khi bị cảm.

Hay những chiếc lá non vẫn được cuộn tròn thành dạng sợi nhỏ, con người vẫn gọi với cái tên là nõn tre, khi con người bị bụi hay côn trùng bay vào mắt thì những chiếc nõn tre này là một dụng cụ êm dịu, không hại cho mắt, dùng để lấy côn trùng ra. Những chiếc lá của tôi cũng mọc khá đặc biệt, nó không mọc ở những cành cây mọc quanh thân của cây mà những chiếc lá này mọc chủ yếu ở ngọn.

Những cành tre của chúng tôi cũng phát triển sát trên ngọn, còn ở thân cây của tôi thì nhẵn bóng bởi những khúc tre, đốt tre. Bộ phận gắn kết chúng tôi với mặt đất, đó đó là rễ tre. Những chiếc rễ của chúng tôi dạng chùm và có hình tròn trông rất đặc biệt, cũng nhờ những chiếc rễ bám sâu vào lòng đất mà chúng tôi hoàn toàn có thể thoải mái đung đưa, vẫy gọi mỗi khi chị gió thổi qua.

Chúng tôi rất có ích cho con người, không chỉ là trong chiến tranh mà trong cả thời bình. Chúng tôi tuy không tồn tại thân thể không quá cường tráng nhưng lại cực kì rắn chắc, cũng vì vậy mà trong thời chiến, chúng tôi được con người chế tác thành những thứ vũ khí tuy đơn sơ, giản dị song lại cực kì hữu ích, chúng tôi được chế tác thành những chiếc gậy đánh giặc, chế tác thành những mũi tên, hay con người hoàn toàn có thể vót nhọn đầu của chúng tôi, kết nối chúng tôi thành một hệ thống thành những chiếc chông.

Những chiếc chông này cực kì lợi hại nhé, con người sẽ chọn những chiếc chông này xuống dưới mặt đất, sau đó dải lớp lá lên trên đó, khi giặc vô tình đi qua thì sẽ bị những chiếc chông này tiến công và chúng sẽ không khi nào hoàn toàn có thể thoát được. Trong những trận chiến, trong cả trận chiến gian khổ, ác liệt nhất thì tôi luôn sát cánh cùng những người chiến sĩ, những anh chị nông dân xông pha vào trận mạc.

Chúng tôi tuy chỉ là những thứ vũ khí thô sơ, nhưng dưới bàn tay cùng với sự quyết tâm mạnh mẽ của con người thì chúng tôi bỗng chốc trở thành những vũ khí lợi hại nhất, mà những vũ khí tối tân, hiện đại của kẻ địch cũng không thể chống đỡ, đối phó được. Chúng tôi cảm thấy rất vui và tự hào khi con người Việt Nam giành được độc lập, tự do, quét sạch được vó ngựa xâm lược ra khỏi bờ cõi. Niềm tự hào ấy càng thêm ý nghĩa sâu sắc khi hình bóng của chúng tôi cũng thấp thoáng xuất hiện trong những thành công ấy. Chúng tôi không ngại gian khổ, đau thương mà luôn cùng con người đấu tranh vì tấc tấc, vì giống nòi.

Trong chiến đấu chúng tôi là những người anh hùng, còn trong thời bình, chúng tôi vẫn là người bạn tri kỷ thiết của con người Việt Nam, chúng tôi được dùng làm nguyên liệu để phục vụ cuộc sống từng ngày như: đũa, gậy, vật dùng để gói gém, thắt buộc, gậy gộc, rổ rá… Cuộc sống của con người không thể không thiếu chúng tôi, nhất là những người dân ở vùng nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, ngày nay kinh tế, công nghệ phát triển thì vai trò của chúng tôi cũng không hề được như khi xưa nữa.

Nhưng, dù thế nào thì chúng tôi cũng trở thành hình tượng về sự kiên trì, cứng cỏi của người Việt Nam, chúng tôi được mọi người dân Việt Nam biết đến, đặc biệt hơn là cả những người ngoại quốc cũng biết đến chúng tôi, để khi nhìn chúng tôi thì học sẽ liên tưởng ngay đến con người cũng như những phẩm chất đẹp đẽ của con người Việt Nam. không chỉ là tôi mà cả họ nhà tre chúng tôi đều rất tự hào về điều đó.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

11


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 11)

Dọc theo giang sơn Việt Nam, có thật nhiều những loài cây, mỗi loài mỗi vẻ, mỗi vai trò riêng trong cuộc sống của con người. Và có lẽ, từ bao đời nay, cây tre vẫn luôn là loài cây thân thuộc, gần gũi và gắn bó sâu sắc với những làng quê nói riêng, giang sơn Việt Nam nói chung.

Tre là một loài cây được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên giang sơn ta. Tre là một trong số nhiều loài cây thuộc tông tre, phân họ tre, thuộc bộ hòa thảo. Cây cùng họ với nhiều loài khác như nứa, vầu, trúc,… Đồng thời, tre thuộc nhóm thực vật thân xanh, hoàn toàn có thể sống nhiều năm, còn gọi là cây đa niên và được trồng ở nhiều nơi.

Tre được chia làm nhiều loại không giống nhau như tre gai, tre mạnh tông, tre vàng sọc,… Mỗi loại ấy đều có những đặc trưng riêng song chúng đều mang trên mình những đặc trưng chung của tre. Trước hết, mỗi cây tre thường cao khoảng tám đến mười mét, thân cây được chia làm nhiều đốt không giống nhau và bên trong nó thường rỗng. Tùy vào từng loại tre không giống nhau mà màu sắc của thân tre cũng như độ dài của những đốt trên thân tre cũng hoàn toàn có thể không giống nhau.

Thêm vào đó, lá tre thường dài, mỏng và dẹt, có một đầu nhọn hoắt và thường có những gân lá song song với nhau theo chiều dọc của lá cây. Lá tre thường kết lại với nhau thành một chùm gồm năm lá, tỏa ra những hướng trông như một chiếc quạt nan. Theo thời gian và độ trưởng thành của cây tre, lá tre cũng chuyển đổi từ màu xanh sang màu vàng và sau cuối là rụng đi.

Và một điều có lẽ rằng ít ai biết đó đó là tre cũng có thể có hoa. Hoa tre thường có white color, tuy nhiên, ít ai hoàn toàn có thể nhìn thấy nó bởi lẽ, hoa tre thường rất ít khi nở và nó thường chỉ nở một lần duy nhất vào cuối vòng đời của nó. Đồng thời, tre là loài cây rễ chùm, chúng không sống riêng rẽ từng cây như những loài cây khác mà nhiều cây tụ lại với nhau, sống thành từng khóm, từng lũy như để xung quanh, chở che cho nhau.

Tre là loài cây gần gũi, quen thuộc với mọi người nhưng nó lại có nhiều công dụng và ý nghĩa sâu sắc to lớn trong đời sống của con người Việt Nam từ ngàn đời nay. Măng tre là một món ăn ngon, quen thuộc của hàng triệu con người Việt Nam từ xưa đến nay. Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đây là món ăn quen thuộc dùng để chống đói, cải thiện đời sống cho quân và dân ta.

Ngày nay, măng còn hoàn toàn có thể được sử dụng để nấu nhiều món ăn không giống nhau như nộm măng, măng xào, canh măng nấu chua, vịt nấu măng,… Thêm vào đó, tre còn là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ độc đáo như giỏ hoa, đèn treo, ghế,… Đó là những mặt hàng được người Việt Nam và du khách quốc tế yêu thích và tin dùng. Đồng thời, tre được sử dụng để tạo ra nhiều vật dụng hữu hiệu và thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày của con người Việt Nam như đũa tre, làm bờ rào, làm giá để đồ, làm rổ rá,…

Đặc biệt, trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, tre là người đồng hành tin cậy, là vũ khí cùng nhân dân ta đánh đuổi quân xâm lược, đúng như nhà văn Thép Mới trong “Cây tre Việt Nam” đã viết “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre giữ làng, giữ n­ước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người ! Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!”

Hơn nữa, tre còn là loài cây hình tượng cho “cốt cách con người Việt Nam” với nhiều phẩm chất đáng quý như kiên trì, đoàn kết, luôn biết quan tâm, yêu thương lẫn nhau. Cùng với con trâu, giếng nước, cây tre trở thành một hình tượng đẹp cho làng quê Việt Nam. Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, cây tre luôn giữ một vai trò, vị trí rất đặc biệt và có lẽ bởi thế nó là một trong số những loài cây được nhắc tới nhiều trong những tác phẩm văn học và hội họa.

Tóm lại, tre là loài cây gần gũi với mọi người song nó lại có giá trị và ý nghĩa sâu sắc hết sức to lớn trong đời sống của con người Việt Nam. Nhắc tới cây tre, ta nhớ ngay đến một loài cây hình tượng cho vẻ đẹp bình yên của làng quê Việt và những phẩm chất đẹp đẽ của con người Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

12


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 12)

Trong đời sống từng ngày và trong tâm hồn của người Việt, ngoài hoa sen, cây lúa thì có lẽ, cây tre đó là loài cây phổ biến và quen thuộc nhất. Có lẽ, trong tiềm thức của con người Việt Nam, hình ảnh bờ tre trở thành một hình tượng quen thuộc không thể nào xóa nhòa. Cây tre đã có từ nhiều năm, gắn bó với người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Tre xuất hiện trong truyền thuyết đánh giặc ngoại xâm, xuất hiện trong đời sống ngày thường,…từ miền ngược tới miền xuôi, đâu đâu cũng thấp thoáng khóm tre thân thuộc.

Trong toàn bộ những loài thực vật, có lẽ tre đó là loài cây dễ sống hàng đầu. Dù là ở nơi “đất sỏi, đá vôi bạc mầu” thì cây vẫn hoàn toàn có thể sinh trưởng và tỏa ra bóng mát êm dịu. Tre không đứng riêng lẻ mà cây mọc thành từng khóm, từng bụi, tre đoàn kết như chính mảnh đất mà cây sinh trưởng. lúc đầu, tre chỉ là một mầm măng nhỏ, yếu ớt, mũi nhọn hướng thẳng lên trời.

Trải qua bao nắng mưa, tre giờ đây trở thành những thân cây mạnh mẽ, dẻo dai, sẵn sàng đối đầu với những phong ba bão táp. Thân tre tuy khá nhỏ, lại rỗng bên trong nhưng mang rất nhiều gai nhọn, không cẩn trọng hoàn toàn có thể bị đâm bởi những chiếc gai ấy. Thân cây óng mượt màu xanh lục được điểm xuyến với rất nhiều lá xanh mỏng, dài nhọn như hình mũi mác.

Tre bám rất sâu vào đất bởi đặc tính vùng đất mà tre sinh trưởng thường khô cằn, sỏi đá. Cả cuộc đời, tre chỉ ra hoa một lần, để rồi khi trải qua giai đoạn đẹp nhất ấy, tre cũng sẽ khép lại quãng thời gian của tôi. Tre rất quan trọng với con người cả về mặt vật chất và tinh thần. Tre là mái nhà tranh, là công cụ lao động. Tre là điếu cày cho ông, là rổ rá cho bà, cho mẹ.

Tre còn là chiếc chõng trong buổi trưa hè lộng gió, là đôi đũa quen thuộc trong những bữa ăn. Tre là những que chuyền nhỏ nhắn, là tiếng sáo diều vi vu,…Măng tre là món ăn mộc mạc nhưng đậm đà hương vị quê. Hình ảnh tre cứ thế, dần dần lấp đầy tâm hồn người Việt.

không chỉ là đến hiện giờ mà từ xa xưa, cây tre đã luôn ở bên cạnh con người từ cuộc sống cho tới chiến đấu. Gậy tre, chông tre chống lại quân thù xâm lược. Tre giữ làng giữ nước. Tre bảo vệ xóm thôn, bảo vệ con người ! Tre là bạn, là mối dây không thể thay thế !

Cuộc sống càng hiện đại, những vật dụng bằng tre cũng đã ít dần trong nhà, những bụi tre làng chỉ còn thấy tại những vùng quê yên ả. Dù vậy, hình ảnh bụi tre kiên trì, bất khuất tượng trưng cho tâm hồn, khí phách con người Việt Nam luôn là hình ảnh đẹp, là hình tượng không thể thay thế bởi một yếu tố nào khác.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

13


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 13)

Tre xanh, xanh tự khi nào

Tự ngàn xưa, đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên lũy, nên thành, tre ơi ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi, đất vôi bạc mầu “…

Việt Nam có một hệ thực vật phong phú và đa dạng. Một trong những nguồn tài nguyên thực vật phân bố tương đối rộng và gần gũi với cuộc sống hằng ngày của người dân là cây tre, được mệnh danh là “gỗ của người nghèo”.

Tre là một nhóm thực vật đa niên, thân gỗ, là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. Tre Việt Nam có 7 loại là: tre mạnh tông, tre gai, tầm vông, tre vàng sọc, tre mỡ, tre tàu và trúc.

Tre xanh lúc còn sống có màu xanh mượt, đốt dài và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng tư 6 đến 8cm. Cao không đến 10m. Tre gai kích thước ốm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh gai, sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp. Người ta thường trồng làm cảnh.

Tre rừng, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm. Ngược lại, lồ ô, tầm vông là loại tre rừng khổng lồ, bề ngang và bề cao của nó gấp hai, ba lần tre xanh. Nó mọc thành từng bụi, từng hàng như rừng trong vùng đất hoang. Người ta đốn lấy gỗ làm nhà tranh, nhà sàn rất chắc chắn. Lồ ô to lớn bao nhiêu thì trúc lại mảnh mai, yếu ớt bấy nhiêu vì thân rỗng và kích thước nhỏ xíu.

Có hai loại trúc là trúc xanh và trúc vàng. Gần đây VN có nhập thêm một ít trúc kiểng gọi là trúc Nhật. Những cây kiểng này có hình dáng đặc biệt, thân màu vàng óng, lá xanh mượt mà rất được mọi người ưa chuộng, trồng làm cảnh và thường bày ở mái hiên, phòng khách.

Tre được sử dụng làm cột kèo để dựng nhà, làm đũa, làm máng nước, rổ rá, làm vật dụng nông nghiệp. Tre trồng làm hàng rào. Tre khô làm củi đun. Thân tre chẻ nhỏ để nhóm bếp rất đượm lửa. Lá tre thường được người miền Nam lấy để gói bánh tro vào dịp lễ giết sâu bọ. Lạt tre dùng để cột bánh. Thân tre được dùng để làm đũa. những thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre.

Nhân dân ta thường đong dầu, đong nước mắm khi mua bán bằng ống tre. Thời cách mạng, bộ đội Việt Nam dùng ống tre để đựng nước, nấu cơm. Trong quán ăn ở vùng nông thôn, người ta cũng chẻ thân tre để làm ống tăm cho khách sử dụng sau bữa ăn. Trong chiến tranh, tre được sử dụng làm vũ khí rất lợi hại. Lịch sử có kể về Nguyễn Thiện Thuật sử dụng tre để làm vũ khí chống giặc Pháp. Ngày nay, những bộ salon làm bằng mây và tre rất rất được quan tâm và trở thành một món hàng xuất khẩu đắt giá. Năm 2009, nông dân An Giang đã trồng tầm vông để lấy nguyên liệu sản xuất, lãi 120 triệu đồng trên một hecta.

Hình ảnh cây tre đã đi vào ca dao, thơ văn và ca từ. Chẳng hạn như:

“Rễ siêng chẳng ngại đất nghèo

Tre bao nhiêu lá bấy nhiêu chịu khó

Nghiêng mình trong gió tre đu

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành…”

Ông bà ta có nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn tre tốt:

“Trồng tre, trồng trúc, trồng dừa

Muốn nên cơ nghiệp thì chừa lang vân.”

Người ta còn sử dụng tre già hay tre non vào những việc không giống nhau:

“Tháng tám tre non làm nhà

Tháng năm tre già làm lạt”

Người thợ mộc còn so sánh độ bền của tre như sau: “Tre già là bà gỗ lim”. Ngoài ra, ông bà ta còn nhìn cây tre để nghe ngóng về thời tiết: “Lá tre trôi lộc, mùa rét xộc đến”. Và từ để người xưa còn rút ra một quy luật sống của thiên nhiên và con người: “Tre già, măng mọc” tre chẻ ra làm nuộc lạt, trở thành một thứ không thể thiếu ở nhiều chỗ: khi gói bánh, bó rau hoặc lợp nhà. Ca dao cũng nhắc đến nuộc lạt: “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”. Ai từng đọc truyện Thánh Gióng hẳn không quên bụi tre Đằng Ngà khi Thánh Gióng nhổ tre đánh tan giặc ngoại xâm: “Chẻ tre nghe Gióng”.

Tre không những đi vào thơ văn mà măng tre còn là một thực phẩm chế biến đa dạng. những món ăn từ măng tre: măng tươi, măng khô, bún măng vịt, măng xào thịt ba rọi, thịt kho măng, măng luộc chấm mắm tôm, măng chua… Bún măng vịt là món ăn được nấu với vịt non, béo, măng tươi hoặc khô đã được luộc và thay nước nhiều lần, khi ăn người ta cho bún, một ít hành răm và rau sống vào nữa, trở thành một món ăn vừa thơm vừa béo với nước dùng ngọt dịu.

Măng tươi đã luộc kĩ, có màu vàng chanh, được xắt miếng xào chung với thịt ba rọi trở thành một món ăn dân dã và rất ngon nếu có thêm một vài lát ớt đỏ thì lại càng hấp dẫn. Thịt heo kho măng cũng là một món ăn “đẹp mắt”, nấu nhanh và để được vài ngày, tiết kiệm được thời gian nấu nướng mà khi chan vào chén cơm nóng thì cũng rất ngon miệng. Măng luộc phải chọn măng trúc non, vào mùa mưa.

Sau khi luộc nhiều lần, ta xắt mỏng rồi chấm với mắm tôm hoặc nước mắm ngon ăn kèm với cơm như một món rau. Nó sẽ có một vị vừa giòn vừa mát, kèm theo một vị ngọt dịu của măng tươi. Nói tóm lại thì cây tre luôn là người bạn đồng hành và nó đóng góp toàn bộ lợi ích của bản thân mình cho con người Việt Nam.

Từ bao đời nay, cây tre là người bạn gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam. Hiện nay cuộc sống ngày càng hiện đại và có nhiều đồ dùng là bằng nhựa, inox xuất hiện. Nhưng người ta vẫn có khuynh hướng quay về với thiên nhiên. Ngày nay, nhiều người đã bỏ trồng lúa hoặc cây khoai, đốn cây tre để có chỗ xây nhà lầu, nhưng nếu một lúc nào đó, VN không hề một bóng tre thì đời sống sẽ khó khăn và buồn tẻ biết mấy! Tre đã góp sức toàn bộ sự sống cho con người nên ta phải yêu quý và bảo vệ cây tre Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

14


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 14)

Quê em có muôn ngàn cây lá không giống nhau, mỗi cây có một vẻ đẹp riêng, một công dụng riêng. Nhưng gân gũi nhất vẫn là cây tre. Nếu như làng quê thiếu lũy tre làng thì chẳng còn là làng quê nữa.

Tre có dáng thẳng, thân tròn. Tre đứng thành bụi, giăng thành hàng, thành lũy. Lá tre mỏng, nhọn, trông mảnh khảnh nhưng thật dẻo dai. Họ nhà tre có mấy chục loại không giống nhau, nhưng cùng một điểm tương đương, đó là cùng có mầm nọn măng mọc thẳng. Dáng tre vươn cao, có chiều quằn ở ngọn, màu tre tươi như nhũn nhặn. Rồi tre lớn lên cứng cáp, dẻo dai, tre mộc mạc, giản dị như người nông dân chân lấm tay bùn.

Cây tre đã góp phần điểm tô cho cảnh sắc quê em. Tre ôm ấp xóm làng, tre làm cho phong cảnh làng quê thêm duyên dáng, bình yên. Còn gì đẹp hơn hình ảnh những mái đình, ngôi chùa cổ thấp thoáng dưới bóng tre xanh, ánh trăng vàng lơ lửng trên ngọn tre. Và cũng thật là đẹp với hình ảnh con trâu nằm nhai bóng râm dưới bụi tre đầu làng. Tre hòa quyện cùng với cuộc sống lao động, tre chia ngọt sẻ bùi cùng con người trong những phút thư nhàn ngồi trò chuyện cùng nhau. Tre làm cho quê em có một vẻ đẹp yên bình, êm ấm.

Tre không chỉ là đẹp đơn thuần là màu xanh cây lá; không chỉ là là cái dáng nghiêng nghiêng ôm ấp xóm thôn mà vẻ đẹp của tre còn là sự chịu khó, chất phác:

Cánh đồng ta năm đôi ba vụ

Tre với người vất vả quanh năm. (Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

Tre là bạn của nhà nông. Tre giúp người làm cột, làm kèo, đan phên nứa để dựng vách, làm sườn nhà… Tre từng một nắng hai sương với người lao động. Tre làm cán cuốc, cán cày. Tre đồng cam cộng khổ với người, cùng người gánh vác khó khăn, cùng người hạnh phúc. Tre là bạn tâm giao với mọi lứa tuổi. Tre gắn bó với tuổi già, chiếc điếu cày giúp cụ già khoan khoái hút thuốc làm vui, nhổ vụ trước; nghĩ đến mùa sau hay nghĩ đến một ngày mai bội mùa, no ấm.

Tre đem lại thú vui cho con trẻ, tre làm chiếc nôi để những em bé có giấc ngủ say nồng, tre làm que chuyền để trẻ em có thú vui thú. Tre đan rổ, rá, nong, nia để những bà, những cô có cái mà sử dụng. Tre đem lại vẻ đẹp giản dị, thuần khiết cho người con gái thôn quê. Guốc tre, nón tre đi cùng với tà áo dài của người phụ nữ Việt Nam thì đẹp biết bao! không chỉ là thế, tre còn đem lại hạnh phúc lứa đôi:

Lạt này gói bánh chưng xanh

Cho mai lấy trúc cho anh lấy nàng.Thép Mới

Tre không chỉ là phục vụ nhà nông mà còn là vũ khí để đánh giặc. Gậy tre, chông tre, mũi tên tre đã dựng nên thành đồng Tổ quốc. Tre mang chí khí như người chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu giữ làng, giữ nước, giữ hòa bình hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.Chiến tranh đi qua, tre lại mang nét đẹp duyên dáng, trữ tình. Tre rì rào khúc hát bốn mùa. Tre vi vút những bài ca xây dựng của cuộc sống đang hướng tới tương lai. Tre hiên ngang đứng giữa cổng chào thành công.

Ngày nay, giang sơn ta đã có một nền khoa học công nghệ hiện đại nhưng cây tre Việt Nam vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống. Tre có mặt khắp nơi, những mặt hàng được làm từ tre đã đi khắp mọi miền Tổ quốc, được xuất khẩu ra quốc tế. Tre vinh hạnh góp phần đưa nền kinh tế giang sơn ngày một đi lên. Đặc biệt hơn nữa, tre nứa làm nên những trang giấy trắng tinh để chứa đựng biết bao nguồn tri thức giúp những em vững bước vào đời.

Cây tre thật đẹp, thật có ích. Tre gắn bó với người, cùng người lao động và chiến đấu, cùng người xây dựng và bảo vệ giang sơn. Trong tương lai, tre vẫn còn đó đó mãi mãi. Tre già, măng mọc, theo qui luật từ bao đời nay. Búp măng non mãi trên phù hiệu hay trên mũ đội viên. Đó là hình ảnh lớp trẻ đang lớn mạnh, là thế hệ tương lai của giang sơn.

Em mong rằng quê em vẫn mãi mãi xanh một màu xanh của tre, màu xanh của tâm hồn, của nền văn hóa, của cuộc sống tươi đẹp, phồn vinh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

15


Bình An

Bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất (bài số 15)

Bức tranh bình yên của làng quê Việt Nam là cảnh sắc làng quê nông thôn với những hình tượng đặc trưng mang đậm sắc thái dân tộc: mái đình cây đa, cánh cò, sáo diều, con trâu, lũy tre…Dù đi đâu về đâu thì hình ảnh ấy vẫn sống mãi trong lòng mỗi người Việt Nam.

“ Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi”…

Cái hình ảnh “lắc lẻo” ấy cứ rung động nhẹ nhàng liên tiếp trong lòng tôi mãi mãi như lời ru của mẹ, nằm trên chiếc võng tre màu trà lên nước in bóng mẹ đã theo tôi đi hết cuộc đời. Cây tre là người bạn tri kỷ thiết nhiều năm của người nông dân và nhân dân Việt Nam,với nhiều phẩm chất cao quý,nó trở thành hình tượng về con người, về giang sơn Việt Nam.

“Tre xanh xanh tự khi nào. Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh” không biết tre có từ đâu, nhưng từ thời Hùng Vương thứ Sáu đã đi vào truyền thuyết lịch sử chống giặc cứu nước. Tre tượng trưng cho người quân tử bởi thân hình gầy guộc thẳng đứng, cao vút, bất khuất vươn lên bầu trời cao.

Lá thì mong manh, manh áo cọc bao ngoài thì để dành riêng cho măng, như người mẹ hiền âu yếm, hi sinh cho đứa con yêu bé nhỏ. Dù gầy guộc nhưng tre vẫn biết sống chung biết kết nên lũy nên thành, sự đoàn kết đó không sức mạnh gì tàn phá nổi. Những cây con thì nhọn hoắt, đâm thẳng, tự tin, vươn lên đầy sức sống, như sự tiếp sức cho thế hệ đi trước. Tre kiên gan bền chắc vững chãi trong mọi môi trường sống dù bùn lầy, khô hạn, đất sỏi đất vôi bạc mầu tre cũng xanh tươi mượt mà. Tre mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp dẻo dai, thanh cao chí khí như người. Sự hóa thân ấy đã xóa khỏi ranh giới giữa con người với sự vật.

Tre là người bạn tri kỷ của con người, từ khi lọt lòng nằm trong chiếc nôi tre, lớn lên gắn bó với tre qua những trò chơi: tán hưng, ống thụt, làm diều, làm lồng đèn trung thu… Trưởng thành lao động dưới bóng tre những đêm trăng: “ Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng. Tre non đủ lá đan sàng được chăng?”. Đến khi lấy vợ gả ông xã thì cùng dựng mái nhà tranh có kèo cột tre, giường tre….Tre hiện diện trong đời sống con người từ ăn, ở, làm việc, trong phong tục, tập quán, dựng nhà dựng cửa… từ lúc sinh ra cho tới lúc mất đi, tre với con người sống chết có nhau chung thủy.

“Dưới bóng tre, thấp thoáng mái đình chùa cổ kính” là một nền văn hóa nông nghiệp, những nhọc nhằn, giần sàng, xay, giã đều có tre. Tre chẽ lạt gói bánh chưng khi xuân về, khít chặt như những mối tình quê cái thuở lúc đầu nỉ non dưới bóng tre xanh. Tre trong thú vui trẻ thơ, trong chút khoan khoái của tuổi già, khắng khít ràng buộc như định sẵn như tơ duyên.

Tre đi vào đời sống tâm linh như một nét văn hoá.Từ những câu hát, câu thơ như xâu chuỗi tâm hồn dân tộc “bóng tre trùm mát rượi”, một lời tâm sự về mùa màng “Cánh đồng ta năm đôi ba vụ. Tre với người vất vả quanh năm”, hay một khúc hát giao duyên “Lạt này gói bánh chưng xanh. Cho mai lấy trúc cho anh lấy nàng”. Nhạc của trúc của tre là khúc nhạc đồng quê. Những buổi trưa hè lộng gió, tiếng võng tre kẽo kẹt bay bổng, xao xuyến bâng khuâng man mác như lời của đồng quê của cuộc sống bình yên.

Tre trong sự nghiệp dựng nước cũng bất khuất, can trường với khí tiết ngay thẳng: “Tre xung phong vào xe tăng đại bác. Tre giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người”. Tre lăn xả vào kẻ thù vào cái ác, dù cái ác rất mạnh, để giữ gìn non sông giang sơn, con người. Tre là đồng chí của ta, tre vì ta mà đánh giặc. Kì lạ thay cái cối xay tre là hình tượng về cuộc đời lam lũ, về sự chịu đựng bền chắc dẻo dai, vẫn là cây tre nhũn nhặn ấy, nó nhọn hoắt mũi tầm vông với sức mạnh của Thánh Gióng năm xưa đánh đuổi giặc Ân cứu nước.

Mai này, khoa học kĩ thuật có phát triển đến đâu, cũng không thể thay thế hình ảnh cây tre trong tâm hồn của con người Việt Nam. Nó trở thành cây tre tinh thần là bóng mát, là khúc nhạc tâm tình, còn là hình tượng cao quý cho phẩm chất cốt cách con người Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 15 bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất, Top 15 bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất, Top 15 bài văn thuyết minh về cây tre hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *